Monday, 25 May 2015

Thuyết hiện sinh: "Tiến lên để sống"

Trong thời gian nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, một sinh viên đứng trước sự lựa chọn khó khăn: trốn sang Anh để tham gia cuộc kháng chiến hoặc ở lại để chăm sóc người mẹ già yếu, cô độc mà anh là chỗ dựa duy nhất. Tham gia kháng chiến vì "đại nghĩa", nhưng chưa chắc đóng góp được gì nhiều. Ở lại vì đạo hiếu riêng tư, nhưng vắng anh, người mẹ chắc không thể sống sót. Anh có thể xin lời khuyên từ các vị linh mục, nếu anh là tín đồ. Nhưng, có linh mục cộng tác với địch, có linh mục kháng chiến và có cả linh mục trùm chăn. Chọn hỏi người nào cũng tức là mặc nhiên đã chọn trước câu trả lời! Nếu chọn hỏi Jean-Paul Sartre, người thầy giáo chủ trương thuyết hiện sinh, chắc hẳn Thầy Sartre sẽ trả lời: "Anh tự do. Anh hãy suy nghĩ, chọn lựa và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình!". Nói cách khác, chẳng có một nguyên tắc, một đạo lý có sẵn nào (triết học gọi là "tiên thiên"/a priori) quyết định hộ cho anh được cả. J. P. Sartre, trong luận văn nổi tiếng "Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản" (1946, bản tiếng Việt của Đinh Hồng Phúc, sắp xuất bản) nêu trường hợp éo le ấy như một điển hình cho vô vàn tình huống nan giải của đời người, chẳng hạn: có nên bắn hạ một máy bay chở khách khi bị bọn khủng bố chiếm giữ và sắp lao vào chỗ đông người? Có nên ngăn cản sự tiến bộ của khoa học trong nghiên cứu tế bào gốc và nhân bản người? v.v.. và v.v..

Đặt con người trước những "hoàn cảnh ranh giới" của sự sợ hãi, lo âu, xấu hổ, ghê tởm, tội lỗi, bệnh tật, cô đơn, khủng hoảng để cảm nhận sự tự do vừa như gánh nặng vừa như nghĩa vụ, là tạo cơ hội cho con người đối diện với chính mình, tra hỏi về khả thể của tự do và phẩm giá ngay cả trong những cảnh huống ngặt nghèo nhất. Triết thuyết hiện sinh ít bàn trực tiếp về giáo dục ("rao giảng", "dạy dỗ" là những gì thật xa lạ với tinh thần thuyết hiện sinh!), nhưng, đúng như nhà giáo dục học R. Reichenbach nhận xét, "bất kỳ nhà giáo "giỏi" nào cũng đều là một nhà theo thuyết hiện sinh! Điều này người ta thường quên hay không hề biết đến. Nhưng thật đáng nhắc lại và không bao giờ là muộn! Tất nhiên, không có nghĩa là một nền sư phạm "hiện sinh chủ nghĩa" là hoàn toàn đầy đủ. Không, không ai bảo thế cả!"



"Lùi lại để hiểu, tiến lên để sống!"

Câu nói trên đây của S. Kierkegaard, một trong những triết gia tiền phong của thuyết hiện sinh, tóm gọn tinh thần của triết thuyết. "Lỗi lầm" là động lực thường trực để con người biết ngoái nhìn lại quá khứ, thấu hiểu và cảm thông. Còn "tiến lên để sống" là dũng cảm đề ra những dư phóng cho tương lai, với ý thức đầy đủ về hoàn cảnh giới hạn về nhiều mặt của chính mình cùng với trách nhiệm phải gánh vác trước tha nhân và cộng đồng, tức, thật sự sống "hiện sinh", hoặc buông xuôi, mê muội, vô ý thức. Trong trường hợp trước, ta quan tâm đến câu hỏi: làm sao thực hiện sự tự do hay, ta tự định hình mình như thế nào? Khác với "chủ nghĩa hư vô", thái độ "hiện sinh" không bao giờ là bi quan, yếm thế, dù không muốn tự gọi là "lạc quan". Tự do, trong triết hiện sinh, là tự do tích cực, chủ động, là tự do "để làm gì", chứ không chỉ là tự do thoát "khỏi cái gì". Khi không hài lòng với trực trạng, thì, theo nghĩa "hiện sinh", ta phải hành động để thay đổi nó đi. Cho dù khó có thể hình dung một dự phóng cho toàn bộ lịch sử và xã hội, tín niệm của thuyết hiện sinh vẫn là tự mình hãy "tạo nên" ý nghĩa cho nó. Ý nghĩa và giá trị chỉ hình thành qua hành động, dù trong nghịch cảnh, nếu không muốn kéo lê đời mình trong sự nhàm chán: rút cục, ta có thể kết luận rằng hành động của ta là vô nghĩa, phi lý, hoặc ta tìm thấy ý nghĩa trong hành động cụ thể (chứ không ở đâu khác được!).

Triết hiện sinh chia tay với triết học "trừu tượng". Nó quan tâm đến tính chủ thể cụ thể của con người, chứ không phải khái niệm trừu tượng về "chủ thể". Đó là lý do nhiều triết gia hiện sinh (như Sartre, Camus...) chọn hình thức văn nghệ (tiểu thuyết, kịch...) để đến gần hơn với đời sống thực, nói lên những băn khoăn, thao thức, đau khổ và lựa chọn trong "thân phận" làm người.

Khẩu hiệu có lẽ trứ danh nhất của thuyết hiện sinh Pháp (Sartre) rằng hiện hữu có trước bản chất muốn nói rằng ta không hề hay biết một "bản tính" hay "bản chất" có sẵn nào đó của con người để, chẳng hạn, dùng làm định hướng hay đường lối bất biến cho giáo dục, luân lý và sự phát triển xã hội, hoặc để từ đó, xác định chỗ đứng của con người trong vũ trụ. Đúng hơn, ta "bị ném vào cuộc đời" và không có bản tính định sẵn nào cả. Mặt tích cực của quan niệm này là: khi dự phóng, quyết định, hành động, ta "tự tạo ra chính mình". Thuyết hiện sinh, theo cách hiểu ấy, đã ảnh hưởng rộng rãi ra khỏi Tây Âu vốn là cái nôi của nó. Một trong những nhà triết học giáo dục quan trọng nhất của nước Mỹ là Maxine Greene (1917-2014) phát triển tư tưởng hiện sinh, xoay quanh chủ đề: Tự do như là Thực tiễn. "Tự do", theo bà, không phải là nhờ sống trong một "nước tự do", mà vì ta sống theo một cách thế tự do. Theo Greene, vấn đề cốt lõi là làm sao thực hành tự do bên ngoài vai trò và chức năng định sẵn (trong trường hợp của bà là: người Mỹ, phụ nữ, da trắng, trí thức..)? Lý tưởng (cao) của giáo dục là ở chỗ làm cho con người có năng lực "siêu việt" lên khỏi vị trí hầu như đã được an bài và khó tránh khỏi ấy. Vậy, chính "con người cụ thể", chứ không phải bản tính nhất định nào, vẫy gọi con người hãy tự sáng tạo chính mình. Trong diễn trình ấy, những vấn đề chỉ được đặt ra cho từng con người cá nhân cụ thể để giải đáp và tiếp tục tìm tòi, vươn tới.

Triết hiện sinh, như thế, không phải là triết học trường ốc với sách vở mốc meo, mà là hoạt động: triết học là làm triết lý. Ý nghĩa của hoạt động này, nói như Karl Jaspers, là góp phần "soi sáng" hiện hữu của con người trong một hoàn cảnh nhất định. Chức năng của nó là cho ta thấy rằng cá nhân mình là duy nhất, là tự do, là có thể chọn lựa, dù ở trong bất kỳ tình huống nào.


Theo một nghĩa rộng nào đó, hầu như không triết gia hay nhà giáo dục nào không là "nhà hiện sinh"! Socrates cũng thế, John Dewey cũng thế. Tuy nhiên, triết thuyết (giáo dục) hiện sinh, theo nghĩa chặt chẽ, là sản phẩm độc đáo và sâu sắc của thế kỷ 20, một "thế kỷ ngắn" đầy những cực đoan, nói như Eric Hobsbawm hay "thời đen tối" dưới con mắt của Annah Arendt, sẽ được tiếp tục tìm hiểu qua vài nét thật đặc sắc của nó.

Bùi Văn Nam Sơn 

Monday, 20 October 2014

DỊU DÀNG SẮC THU











Thu về sớm miên man làn gió thoảng
Kéo nắng chiều rơi nhẹ trên khóm cây
Bát ngát trời hoa lá quyện trong mây
Họa nét thơ trên mặt hồ gợn sóng.

Có giọt nắng rơi vào miền thầm lặng
Hong tóc mềm trong chiều thu lá bay
Có nàng Thanh…chiều nay như bỗng say
Muốn ôm cả sắc thu về gác nhỏ.

Cũng có lúc muốn gửi vào trong gió
Những ước mơ khi ngày mới sắp sang
Nhờ nắng thu dọi chiếu muôn ánh vàng
Nhuộm tương lai huy hoàng muôn sắc thắm.

Này yêu dấu, có hay mùa thu gọi
Dịu dàng em pha lẫn sắc thu êm
Thành kỷ niệm như nhạc khúc êm đềm
Cho anh níu thu về trong mắt em.

20.10.2014
Viết tặng T.T.


Sunday, 21 September 2014

„CHẠM“!

Tình cờ, đọc một bài viết trên mạng, tựa đề „Chạm“, tuy bài viết ngắn gọn nhưng ấn tượng, liền nghĩ ngay, chắc mình cũng nên viết điều gì đó về „Chạm“. Nếu không thể diễn đạt được thế nào là „chạm“, có thể hiểu cách khác như: rờ, đụng... Hoặc nếu „chạm“ không đủ mạnh, cũng cố gắng „chạm“ nhẹ xem sao!

Mọi hoạt động của con người đều cần đến sự đụng chạm của trí óc, có nghĩa là động não. Từ ý tưởng, con người hành động, qua tứ chi, qua các giác quan.

Từ những lần „chạm“ bởi những hoạt động ngày thường, ta „chạm“ vào quá khứ, hoài niệm về những việc đã qua, những mối tương quan gia đình, bè bạn, xã hội…

Ta „chạm“ vào giây phút hiện tại, đối diện với bao nhiêu bộn bề của cuộc sống, và không quên „chạm“ vào những kế hoạch, chương trình, dự định cho tương lai. Đó là ý chí, quyết tâm, tìm con đường tốt nhất để bước vào tương lai với xác suất thành công nhiều hơn.

Ở phương diện tinh thần, ta dường như „chạm“ vào mầu nhiệm của sự sống, quy luật thời gian và sự vận hành của vũ trụ. Ta „chạm“ vào khoảng không huyền bí, và không ngừng khao khát „chạm“ vào Đấng Siêu Việt, là Thượng Đế, chủ tể muôn loài.

Một điều rất lý thú, đó là „chạm“ trong phương diện tình cảm. Con người gặp gỡ, đối diện, tương quan qua lại, dẫn đến những ấn tượng, cảm thấy thích, rồi nhớ, thương… đến những lần „chạm“ qua thị giác, khứu giác, xúc giác...Nếu „chỉ một lần chạm nhẹ cũng làm lòng ai xao xuyến“, thì nhiều lần „chạm“ nhẹ cũng có thể trở thành cường độ như sóng biển dâng tràn, cho người ta có cảm giác như đất trời hòa hợp, giao duyên.

Hãy „chạm“ vào phương diện tri thức để thấy những điều mình đang thiếu và cố gắng thủ đắc. „Chạm“ vào ý chí để tìm thấy con đường mình nên đi và không bao giờ có ý định bỏ cuộc. „Chạm“ vào cuộc sống, các mối tương quan…để thấy mình cần những kỹ năng cho cuộc sống và cho các mối tương quan giao tế. „Chạm“ vào trái tim để biết yêu thương, biết trân quý những tình cảm, sự hy sinh mà những người yêu thương, gần gũi đã dành cho mình, qua đó biết lấy nhân nghĩa mà đối đãi. Và hãy „chạm“…


21.09.2014

Monday, 25 August 2014

NHỮNG CÁM DỖ Ở ĐỜI


Trong cuộc đời, có rất nhiều cám dỗ, những cám dỗ thường được kể tên nhất có thể là: Quyền lực, tình, tiền…Những người vì lý do nào đó, không thể tiếp cận tình, thao túng tiền, thì cũng còn chút quyền lực để bám víu.

Một chút quyền lực quèn thôi cũng làm người ta lên mày, nở mặt, lăng xăng, nhiệt tình quá mức. Họ cũng co, duỗi, chỉ tay năm ngón, cũng nói không với người này, ban phát ừ, có, được với người khác.

Thế mới hiểu được lòng người, khi người ấy là một người thuộc quyền, quanh năm chỉ biết làm theo lời người khác, họ rất khiêm nhường, dễ mến, nhưng khi được cất nhắc, được giao nhiệm vụ gì đó, sẽ biết họ thay đổi như thế nào!

Cũng dễ hiểu thôi, con người mà, luôn bị tham sân si…bám chặt, nếu không cố tình giũ bỏ mà cố vun vén, lấy bề, tạo thế, thì hậu quả là những chuỗi dài chuyện không đâu vào đâu đua nhau kéo tới.

Lúc đó, những người dưới quyền tha hồ chịu trận. Người dưới quyền như con quay trong lòng bàn tay họ. Người có chút quyền lực quèn cứ thế mà thao túng, thử nghiệm ý tưởng, nay thế này, mai đổi khác.

Khi thể hiện quyền lực, đôi khi họ dễ bị sa đà vào chuyện hám danh, trục lợi, ưa được người khác xưng tụng, nịnh nọt mình.

Cám dỗ quyền lực không chỉ có ở mọi cơ cấu xã hội trần thế, nhiều lúc nó còn len lỏi vào những chốn thánh thiêng, các tổ chức, hội đoàn của các tôn giáo. Vì là con người, mà đã là con người, thì có giới hạn, bất toàn, do đó, mọi chuyện không thể không xảy ra.

Từ một sự kiện thực tế phải đối diện, làm cho bần đạo này phải suy nghĩ, ưu tư chút. Hy vọng qua mấy dòng ngắn ngủi, có thể cảnh tỉnh được chính bản thân tránh vết xe đổ của người đi trước, nếu sau này, được giao nhiệm vụ gì đó, hãy tận tâm, tận lực phục vụ, giúp đỡ anh chị em trong sự khiêm nhường và kính trọng, khi mình thực thi chức quèn ấy…


25.08.2014

Monday, 28 April 2014

DẶM TRƯỜNG

Thương ai độc bước giữa dặm trường
Đêm buồn giá lạnh, buốt mù sương
Gối chiếc, đơn thân, hiu quạnh vắng
Sụt sùi cho vơi nỗi sầu thương
Trông về cố quận, phương xa ấy
Nỗi mong tin nhạn có còn vương?
Nơi đây vùi ẩn xuân xanh thắm
Nổi trôi trong cõi mộng vô thường! (14.3.2014)

Sunday, 13 October 2013

NGHỊCH LÝ...

Có nhiều nghịch lý ở đời, đôi khi ta thường gặp:

Dưới bước chân chẳng phải hoa hồng, thảm đỏ nhưng là gập ghềnh, quanh co, sỏi đá; cố gắng hết mình nhưng vẫn chưa chạm tới ngưỡng thành công; bị hiểu lầm chỉ vì quá nhiệt tình và chân thành, chiến lợi phẩm thu được là: bị ghét; là những quan tâm luôn được ghi địa chỉ đến mà chẳng bao giờ được hồi âm; là những thất hứa được bôi trơn bởi những lời êm tai; là những suy nghĩ, lo toan đè nặng hành động „quẳng gánh lo đi và vui sống"; là mong ước có một sức khỏe khả dĩ, trong một khoảng thời gian nhất định, để sống một cuộc sống bình thường nhưng chẳng được đền đáp và còn nhiều nghịch lý khác nữa. 

Tất cả những nguyên nhân ấy được giải đáp trong một chữ: ĐỜI, vì trong cuộc đời, tất cả mọi sự đều có thế xảy ra?!

Monday, 4 February 2013

NGÀY CUỐI NĂM…



Con người được sinh ra trong thời gian, mọi vui buồn, sướng khổ, hạnh phúc…tất cả những gì xảy ra trong cuộc đời của một con người đều có sự hiện diện của thời gian, ghi dấu thời gian, thời gian trở thành người bạn thân thiết, ghi lại những kỷ niệm, những thời khắc trọng đại của cuộc đời; nhưng đôi lúc lưu giữ cả những kỷ niệm buồn mà chủ nhân dù có muốn làm cho nó phai dấu thời gian cũng không thể!

Thời gian như người bạn, như người thư ký trung thành, tính sổ, „cộng số“ những việc làm tốt, nhưng liệu có „trừ“ những lỗi lầm khi ta mắc phải, có tẩy xóa những „nốt nhạc lạc điệu“ vô tình rơi rụng xuống dòng nhạc đời thường của một con người…?!

…thế là đã cận kề ngày cuối năm, sao thấy thời gian trôi qua nhanh quá…Những ngày qua đã là quá khứ, còn hôm nay, liệu trong cuộc đời của con người, còn bao nhiêu ngày được gọi là „hôm nay“? Ước gì „ngày hôm nay“ của cuộc đời mọi người luôn vui vẻ, tràn trề hy vọng khi bình minh đến, để rồi lúc đón cảnh hoàng hôn buông xuống lòng thư thái bình an và không phải hối tiếc vì đã làm được nhiều việc tốt, để ghi dấu thời gian và lưu lại mãi với thời gian…

Có như thế, tâm hồn mới háo hức đón ngày mới của cuộc đời, ngày được gọi là „hôm nay“ trong tương lai, cụ thể là „ngày mai“. Xin chúc tất cả các Bạn Năm Mới vui khỏe, bình an, hạnh phúc, thành đạt và lúc nào cũng có ngày „hôm nay“ trong cuộc đời thật ý nghĩa, để lại ngày hôm nay của đời mình như một dữ liệu tốt, để ngày mai, trong tương lai, thế hệ trẻ tiếp bước…

30.12.'12